Căn gác xép blog | Can Gac Xep

Căn Gác Xép Blog
Những phiền muộn từ nay xin xếp lại
Ông Lang là người dân tộc Khơ Me, ở phía bên kia cánh rừng. Ngày ông chuyển về làng tôi ở rể, mọi người đều lạ lẫm bởi tiếng Kinh nửa mùa của ông. Nhưng lâu rồi quen, nhờ bản tính thân thiện, dễ gần, ông lấy lòng được dân làng gần xa. Giọng nói thều thào của ông cũng dần êm tai hơn với dân bản địa. Ngày tháng trôi qua, mới chốc đó mà gần hai mươi năm. Con gái lớn của ông tên Ban cũng tròn 17. Cô xinh đẹp, lại nết na, lễ phép, được khối người trai làng tìm đến trao lời yêu. Nhưng vợ chồng ông Lang nghiêm khắc lắm, dễ gì có được cô ấy làm người yêu. Tôi cũng là một người trồng cây si, nhưng khác với những người trai làng khác, họ trồng cây si trước cửa nhà nàng, còn tôi thì... tìm cách đi cửa sau.
Tôi ở cạnh nhà ông Lang và đã quen thân ông từ nhỏ. Chừng 4 hay 5 tuổi, cứ mỗi lần ông Lang sang nhà tôi chơi lại bế tôi đặt lên đùi ông và nói: Lớn nhanh đi con, lớn nhanh ông gã Ban cho con làm vợ nhé! Cứ thế đến năm tôi lên 9, 10 tuổi ông đều nói như vậy. Năm nay tôi đã hai mươi, đi học tận Sài Gòn, mỗi năm chỉ về quê hai lần. Mỗi lần về nhà, tôi đều sang nhà ông Lang thăm hỏi. Câu nói gã con của ông, tôi không còn nghe thấy nữa. Nhưng tôi rất quý Ban. Tôi xem Ban như một người em gái. Nhưng rồi tình cảm cứ lớn dần lên. Có lẻ tôi đã thích Ban rồi.

Tôi thích Ban nhưng không dám nói. Ông Lang là người tinh ý nên đoán biết tình cảm của tôi, nhất là từ khi tôi lên thành phố học. Về thăm nhà tôi hay quà cáp cho ông, lần này về tôi gọi ông bằng bác chứ không phải ông như mọi khi. Ông hỏi đùa tôi rằng: "Bộ mày có âm mưu gì sao con". Tôi khẻ nhìn sang Ban- cô đang thích thú với chiếc băng đô tôi mua từ Sài Gòn về rồi gượng cười: Dạ! Có đâu bác. Ông cười sặc sụa vì câu trả lời của tôi, đoạn cúi mặt xuống đất như suy nghĩ điều gì. Cô con gái út của ông cũng vừa đi đâu về. Cô bé mới đó đã thành thiếu nữ. 
- Nhài. Mang cho ba cái ấm nước sôi dưới bếp. Nhài quạu mặt nhưng cũng lủi thủi mang đến cho ba mình. Nhài có chút giống Ban, nhất là đôi gò má. Nhưng khi cô bé cười, cô có nét gì đó tươi vui hơn Ban. Giống cái điệu cười của mấy cô gái thành thị nơi tôi theo học.
Ngày 28 tết, nhà ông Lang soạn sửa nồi bánh tét. Mẹ tôi có gửi mấy đòn nên tôi cũng đến canh lửa. Tôi thấy Ban sửa soạn đồ chuẩn bị đi đâu nên có ý dò hỏi. Nét mặt của Ban rất mệt mỏi, khuôn mặt cô xanh xao sau lớp trang điểm nhẹ. Cô cài chiếc băng đô của tôi tặng lên đầu nên càng lộ rỏ đôi mắt sâu đầy những quầng thâm. Ban khẻ nhìn tôi nhưng không nói gì, cô lầm lũi cúi mặt bước đi. Tôi lấy tay lụi dụi đôi mắt vì đám khói sộc lên cay khè. Lần đầu tiên tôi thấy Ban lạnh nhạt với mình. Ông Lang không ngăn cô lại như mọi khi, ông chỉ lầm bầm ít câu rồi cúi xuống chêm thêm củi vào đống lửa sắp tàn. 
Sáng hôm sau, tôi thấy người trong làng xôn xao bàn tán:
- Nhà ông Lang buôn vàng đấy. Mỗi chuyến đi lên núi tôi đều thấy ông đem về rất nhiều đồ, đêm đến còn lúi cúi sau vườn nữa. 
- Chắc là vàng chôn ở đâu đấy sau vườn rồi!
Mọi người kháo nhau chuyện nhà ông Lang buôn vàng. Tôi thấy điều đó thật vô lý, bởi những chuyến về thăm nhà của ông, ông đều mang về những loại lá thuốc. Ba mẹ tôi thường nhờ ông mang về loại thuốc chữa đau lưng cho ba tôi hằng chuyến. Những chiếc bao tải to nhưng nhẹ, làm sao là vàng được. Ba tôi nói vậy. Còn chuyện chôn vàng ở sau vườn thì tôi không rõ. Dạo này tôi thấy ông hay buồn và có vẻ lo lắng, cũng có lúc thấy ông làm gì đó ở phía sau vườn, nhưng tôi nghĩ chắc ông đang bón cây hay gì đó thôi.
Đêm 30 tết, gia đình tôi sau khi sửa soạn quần áo mới thì sang nhà ông Lang uống trà đêm. Đoạn nghe tiếng hét thất kinh từ phía sau vườn nhà ông Lang. Thấy có chuyện chẳng lành, mọi người chạy vội ra vườn thì thấy thằng Tín đứng trân người, bên cạnh là thằng Hùng với chiếc hòm nhỏ và máu rướm đầy trên tay hắn. Ông Lang tiến đến giựt phăng chiếc hòm nhỏ rồi đặt lại chỗ cũ. Thằng Hùng và Tín hốt hoảng chạy. Tôi thấy Ban khóc, cô quay mặt giấu vẻ mệt mỏi. Gia đình chúng tôi thấy chuyện chẳng lành cũng xin phép về. Ông Lang đang hì hục lấp từng cuốc đất khi đồng hồ sắp điểm 12 giờ đêm.

***

- Đó là một cái bào thai chứ không phải vàng.
- Chắc là của con bé Nhài ấy, suốt ngày cứ đeo bám theo mấy thằng con trai. Mới mười mấy tuổi đầu đã dám đi chơi thâu đêm suốt sáng với đám trai làng.
- Hay là con Ban. Tôi thấy nó cứ hiền hiền sao sao ấy. Chắc bị người ta cưỡng rồi. Người đâu mà dại dột.
Giữa cái nắng nóng ngày đầu năm, mọi người lại bàn tán chuyện nhà ông Lang. Lần này là chuyện về chủ nhân của cái bào thai sau vườn nhà ông. 
Tôi sang nhà ông Lang chơi. Thấy bóng người bước vào từ cửa, ông hét lớn: "Đến dò hỏi chuyện cái bào thai thì xin mời về, không tiếp". Đoạn thấy tôi, ông trân mắt nhìn. Tôi thấy ông lo lắng. Tôi bắt chuyện bằng việc hỏi Ban có ở nhà không. Ông lắc đầu bảo: "Nó cùng em nó đi chợ tết dưới huyện rồi".Ông nhìn tôi hỏi: "Khi nào mày vào lại phố?". Tôi thấy ông hỏi lại câu ông đã hỏi mình đến lần thứ 4 nhưng cũng trả lời ông. Tôi xin phép ông về.

- Tao nghĩ mày nên tránh xa con Ban thì hơn. Cũng đừng qua lại nhà ông Lang nhiều- Ba tôi nói. Ông thấy tôi chau mày như vẻ khó hiểu nên ông nói tiếp:
- Mấy đứa con gái hư đốn. Không phải là một cái bào thai mà là hai cái. Tin tao nghe được thì miệng thằng Hùng. Bữa nó đào tìm vàng sau vườn nhà ông Lang, vừa đào được một cái hòm thì thằng Tín nó giựt phắt đi, mở ra thì biết là cái xác còn máu tươi. Thằng Hùng nhìn xuống dưới vẫn còn một cái hòm nữa, nghĩ chắc là vàng nhưng chưa kịp đào nốt thì mọi người ùa ra nên chúng đành bỏ chạy. Hôm sau, nó đến đào lần nữa, nhưng lần này cũng là một cái bào thai đang khô cứng và bốc mùi thối của thịt.
Nghe ba nói, tôi đứng trân người. Tôi nhìn sang nhà ông Lang, những bao lá thuốc khô chất đầy một góc nhỏ, căn nhà vắng hẳn vào những ngày đầu năm.

Tôi hẹn gặp Ban vào một chiều cuối tuần đầu tiên của năm. Ban kể cho tôi nghe những gì cô đã trãi qua. Những điều tiếng của dân làng gần xa khiến cô mệt mỏi trông thấy. Ban nhìn xuống bụng mình rồi khóc. Cô bảo mình đã giết chết một sinh linh. Cô biết chủ nhân của nó là ai nhưng cô không dám nói vì sợ người ta tù tội. Cô từng ước ao sẽ được như mẹ mình. Tìm được người mà mình sẽ gửi gắm. Cô kể rằng ba mẹ cô quen nhau khi mẹ cô theo mấy người bạn từ làng lên núi hái thuốc. Ba cô cũng đi tìm thuốc, họ gặp nhau rồi cùng nhập nhóm. Mẹ cô học bên đông y, giỏi về việc thông thuộc các loại thuốc còn ba cô thì giỏi về việc tìm đường, trẫy rừng. Thế là họ cùng đi. Họ đi mấy ngày liền. Ba mẹ cô yêu nhau từ lúc nào không hay. Rồi những lần hò hẹn. Và họ đã cưới nhau khi mẹ cô mới tròn 17 với cái thai trong bụng là Ban. Ban nói tình yêu của ba mẹ cô như cổ tích. Và cô cũng ước ao có một mối tình như thế. Nhưng người đàn ông cô trao lòng lại không được như ba mình. Nói đoạn Ban khóc. Tôi thấy chột dạ vô cùng. Chỉ biết lặng im nghe tiếng khóc của Ban khi chiều buông xuống.
Mọi chuyện đến quá nhanh khiến tôi khó xử. Tôi không biết mình có đủ dũng khí để nói lời yêu Ban sau mọi chuyện xảy ra không nữa. Chỉ biết rằng, ngày tôi lên xe để vào lại thành phố, lần đầu tiên tôi thấy lãnh cảm với trái tim mình. Ban đến gặp tôi khi xe chuẩn bị lăn bánh. Cô đưa cho tôi hai gói đồ bảo là quà của ông Lang gửi, đoạn cô cúi chào rồi ùa vào đám đông đông nghịt. Tôi mở ra xem có thứ gì bên trong hai gói nhỏ. Đó là hai gói lá thuốc khô với những dòng chữ viết vội: "Tao thấy mày ốm nhom, chắc do mất ngủ vì học hành. Đây là thang thuốc chữa bệnh mất ngủ. Mày cố gắng giữ gìn sức khỏe và học tập tốt. Nhớ gọi cho tao nếu có thể". Tôi thấy áy náy vì chưa kịp chuyển lời cảm ơn ông. Phía dưới tờ giấy còn có dòng chữ nhỏ: "Con Ban thương mày từ lâu! Nó cũng như mày, thương mà không dám nói". 
Tôi lặng nhìn ra khung cửa kính, làng quê nhỏ bè dần khuất sau rặng đồi khi xe rẻ hướng.

Trở về phòng trong trạng thái tứ chi như muốn rời khỏi tấm thân gầy, hắn mệt mỏi đánh bật cơ thể xuống tấm đệm dày. Bất giác cảm thấy căn phòng như đảo lộn. Một thứ mùi tanh quyện với vị chan chát mặn của biển vây lấy căn phòng, vây lấy hắn... Đôi mắt lờ đờ sau lớp nước mắt, đục dần. Hắn bị màn đêm nuốt chửng vào một màu đen đầy ma mị. Tiếng kêu cót két của chiếc xe đạp cà tàng, một mùi tanh quen thuộc sộc lên từ cơ thể của một người phụ nữ. Nàng lại đến! Đêm nay với chiếc váy màu hồng phấn hai dây trông nàng thật xinh. Nhưng Không... Chỉ là ảo ảnh... Mọi thứ đã là dĩ vãng rồi. Hắn khựng lại như cố không để vẻ ngây thơ ấy khiêu khích mình. Nhưng toàn thân rã rời... Cô gái càng tiến tới gần hơn. Hắn cảm giác bất lực... Bật ra những lời cầu xin yếu ớt... Phút chốc rồi lịm đi...

***


Đó là một đêm trăng đẹp. Hắn ngồi chờ nàng ở bãi cát ven biển. Nàng đến với chiếc xe đạp cũ kỹ, trên người nhễ nhại mồ hôi. Những con cá còn xót lại phía sau cái rổ, bốc mùi nồng nặc. Hẳn là nàng vừa đi làm về. Nàng ngồi xuống bên cạnh hắn. Hắn luồn tay lên kẽ tóc nàng rồi đặt xuống vai xích nàng lại gần. Hắn kể cho nàng nghe những câu chuyện về tuổi thơ của hắn mà hiếm khi kể cho nàng. Nàng cũng tò mò muốn biết quá khứ của người mình yêu. Nàng mới về làng chài này 2 năm và yêu hắn gần 1 năm.

Hắn bắt đầu câu chuyện bằng một giọng trầm: Anh nhớ nhất là những chiều học lớp 6. Cũng chiếc xe như em, mẹ đèo anh đến trường. Ngồi phía sau, cảm giác mùi mồ hôi hòa với mùi tanh của cá trên cơ thể mẹ anh lại thấy thương mẹ hơn. Những điểm mười là những gì anh có thể làm cho mẹ hạnh phúc... Mẹ thường xoa đầu bảo anh: "Con ngoan lắm cố gắng học giỏi nha con!"... Hằng ngày xe vẫn lăn bánh. Những câu chuyện mẹ kể về biển trên đường đi càng khiến anh thấy thích. Mẹ kể rằng biển cho cá cho tôm nhưng cũng lấy đi không ít. Những người đàn ông lên tàu đi biển bị bão cuốn trôi, những cô gái có chửa vì sợ ba mẹ, xóm làng mà trầm mình xuống biển. Em có tin không? Mẹ nói không ít người con gái đã bán mình cho biển đấy! Cũng vì thế mà mỗi lần cùng lũ bạn đi tắm biển anh lại sợ và không dám ra chỗ sâu. Có thể mẹ kể để hù bọn nhóc chúng anh vì suốt ngày mãi phơi minh dưới biển, sợ bị bệnh. Nhưng anh vẫn sợ những chuyện mẹ kể cảm giác như sợ khi đọc một chuyện ma... Bây giờ cảm giác đó vẫn ám ảnh anh mỗi khi tắm biển- Hắn hạ giọng trầm hơn.
 - Ôi anh nhát gan quá. Em thì không tin việc đó có thật- chuyện những người con gái bán mình cho biển ấy. Nàng nói với hắn như thế... Rồi ngã vào lòng hắn. Trăng sáng vằng vặc. Biển không ồn ào nữa. Hắn và nàng đã đến với nhau... Trao cho nhau tất cả...
Mấy ngày sau hắn ta lên thành phố tiếp tục việc học. Gần 2 tháng nữa hắn nghe tin từ ba Nhạn: "Con Nhạn có thai rồi, với mày đó thằng khốn. Hắn sựng người. Gia đình hắn cho hắn cưới nhưng bên Nhạn lại phản đối và bảo nàng phá thai. Hắn thì đứng như trời trồng với bao nhiêu dự định tương lai dần sụp đổ. Không thể bỏ học, không thể bám mình ở đất chài nghèo ấy. Hắn rối bời còn gia đình hai bên mất hòa khí, xóm làng xì xào nhỏ to. Nhạn bỏ nhà đi. Mấy hôm sau người ta thấy xác một cô gái trôi vào bờ.  Hắn đau khổ, trốn đi biệt tích... Đó là năm hắn 20 tuổi.

Hắn đã từng thèm khát được về với mẹ hắn, với gia đình và làng chài bé nhỏ của hắn! Đã gần hai năm rồi còn gì, mọi người sẽ tha thứ thôi. Hắn quyết định ngày kia sẽ về... Hắn ghé siêu thị khi trời chập choạng tối, mua cho mẹ ít sữa, cho ba mấy chai dầu gió và lũ nhóc dăm ba quyển sách, quyển truyện... Tất cả xong xuôi. Hắn bước khoan thai ra đường. Kẹt xe, người đông nghẹt, thấp thoáng thấy bóng hình của một người quen. Người con gái với mái tóc mây, dài và được buộc gọn gàng lướt ngang qua hắn. Một mùi mùi tanh hòa với vị mặn chát của biển quen thuộc khiến hắn giật mình. Phút chốc người hắn bị bắn tung lên rồi chỉ còn lại một màu tối xẩm.

Sáng hôm sau đó, hắn choàng tỉnh dậy. Hắn nằm trên giường, tay đang được chuyền nước biển. Hắn cảm thấy sợ vị măn của biển. Như bị ám ảnh nặng nề, hắn rút mũi kim ra khỏi tay, thờ ơ nhìn ra cửa sổ. Hắn đã không thể quên quãng thời gian trước đây... Cuối cùng chỉ có sự đau khổ dằn vặt trong tâm can hắn mỗi đêm. Không ai bắt hắn phải khóc, phải đau khổ. Chính hắn đã giam hãm đời mình bằng nổi ám ảnh của một lần lầm lỡ. Trong suốt thời gian đó, hắn đổ hơn nữa tháng lương của mình vào rượu. Hắn uống rượu, uống say rồi tắm bằng rượu như muốn gột sạch cái mùi tanh vây quanh hắn. Từ ngày có rượu trông hắn già đi khi ở tuổi 22...
Mười năm sau, hắn vẫn đang ở trong căn phòng nhỏ- nơi xa làng chài ấy. Không gần biển nhưng mùi tanh và vị mặn của biển vẫn vây lấy hắn mỗi đêm...
C.L 2012
Những nhánh hoa không tên
Chỉ trú treo bảng giá
Ba trăm
Trăm ba
Ba chục
Những tiếng hì hục
Trong những khách sạn nhỏ to.



Trên những con đường xa tít,
Chi chít những hoa
Và dăm ba gã khát tình
Máu lạnh...

Hoa trở nên không cánh,
Trên ngực gã cướp hương.

C.L 2013

PHẦN 1: BẠN SỢ ĐIỀU GÌ NHẤT?

(Ảnh minh họa, Internet)

Tôi có một người bạn gái, cô ấy sắp chuyển vào đây và hỏi tôi rằng "ở Sài Gòn cậu sợ điều gì nhất?". Trong lòng tôi khi ấy dấy lên rất nhiều nỗi sợ. Và tôi biết, cái tôi sợ nhất sẽ là nỗi sợ chung của không ít những người khác sợ...

- Bạn sợ điều gì nhất khi xa quê? - Tôi hỏi.- Sợ nhất là mỗi sáng, khi mở mắt ra, thấy trong ví không còn một đồng nào cả - một người đồng nghiệp thẳng thắn trả lời.

Tiền! Dường như đó là cái sợ đầu tiên của những người đã có cái đầu tiên nên có khi bước chân vào sống ở đất Sài Thành (Điều tôi muốn nói ở đây chính là công việc). Đúng! Bạn sẽ chẳng thể làm điều gì khác nếu không có đồng nào trong túi, và cuộc sống của bạn sẽ trông thật tẻ nhạt, đặc biệt là khi bạn đang sống ở Sài Gòn - mảnh đất mà bạn đến cũng phần lớn mục đích để kiếm tiền (?). Ở quê, khi đói bạn có thể đến nhà người thân "ăn ké" dăm ba hôm. Ở quê, bạn có thể mượn tiền, chạy vạy khắp nơi để lo những khi đau ốm... Ở quê, bạn có thể tìm đến bạn bè mua vui bằng những trò không tốn phí...Ở quê, bạn có thể có nhiều thứ khác khi không có tiền... Ở Sài Gòn, những ngày không còn tiền, bạn chỉ biết "chạy vạy"... Có khi bạn chạy rất xa nhưng vẫn "đói"...

- Bạn sợ nhất điều gì khi xa quê? - Tôi hỏi.- Sợ nhất là mỗi tối, khi đặt lưng xuống giường, căn bếp nhà bên xộc lên mùi khói cay khè và tiếng nổ đôm đốp của củi lửa, hoặc mùi thức ăn mang vị quê của nhà hàng xóm đồng hương đang hâm nóng...

Nỗi nhớ nhà! Bất kỳ ai xa quê cũng mang trong lòng. Ông bà cha mẹ, anh chị em, hàng xóm, bạn bè... tất cả những con người đã gắn bó với bạn bấy nhiêu năm, bạn đã phải "tạm" rời bỏ họ, và vì bất cứ lý do nào đó cũng là một sự hy sinh to lớn (Tôi nói đó là sự hy sinh e có phần thổi phồng, nhưng thực tế là vậy. Bạn có thể tự hào với bản thân mình vì điều đó). Nỗi nhớ nhà không phải là nỗi sợ, điều tôi muốn nói ở đây là những thứ gợi lên nỗi nhớ đó. Những thứ gợi cho bạn sự chất chứa, cả nỗi lòng, cả những sai lầm thời trẻ... tất cả tạo nên một thứ cảm giác nhớ nhung, luyến tiếc... và khi ở Sài Gòn, bạn tha hồ gặm nhấm những cảm xúc ấy, bởi những điều bạn nghe, những gì bạn cảm nhận từ những giác quan của mình đều mang những câu chuyện....

- Bạn sợ nhất điều gì khi xa quê? - Tôi hỏi.- Sợ nhất là mỗi ngày đi học/làm về, chợt thấy ốm yếu, đổ bệnh, không có ai ở bên săn sóc... Tự mình vo gạo nấu cháo, tự mình chườm khăn...

Bệnh tật, điều liên quan đến sức khỏe - một trong những thứ quý giá bản thân mỗi người luôn coi trọng. Thật đáng sợ khi nó gieo rắc trên cơ thể của những người đang sống một cuộc sống tha phương. Cơ thể đau nhức thì đau chỉ có 1 mà tâm can đau đớn tận 10... Sự cô đơn, trống trải và cảm giác thiếu thốn trăm bề... chỉ có những người từng kinh qua mới hiểu.

Tôi sợ nhất điều gì?

Tôi cũng là một người tha phương, và trong lòng tôi cũng mang nhiều nỗi sợ. Tôi sợ mỗi sáng trong ví không còn tiền và xung quanh tôi không còn bạn bè để vay mượn. Tôi sợ những hôm nhớ nhà nhưng lại không thể trở về. Tôi sợ những khi bệnh tật và cảm giác sẽ "ngã xuống" khi không có một ai bên mình... Và điều tôi sợ nhất bây giờ là tôi đang sợ những điều đó xảy đến một lần.

P/S: Trong cuộc đời, ai cũng có nỗi sợ của riêng mình. Dám nghĩ, dám làm, dám vượt qua... để khi thành công đến, bạn sẽ không phải núp lùm trước những nỗi sợ kia nữa...


- Ông Sáu ơi! Mau ra sông vớt xác con Nhạn. Nó lại điên tình đấy!
Tiếng chú Hai vang lên giữa trưa hè, ồn ào cả một thôn nhỏ. “Con Nhạn lại nhảy sông vì điên tình đấy ông!”. Ba tôi đang cắt những chiếc lá chuối tươi phía sau nhà nghe tiếng thúc của mẹ tôi liền quắc mắt, miệng lẫm bẫm: “Cái con trời đánh”.
Lúc ấy, tôi chắc chắn với ba tôi rằng chị Nhạn sẽ không bao giờ bị trời đánh bởi chị là con của trời. Tôi nghe được điều đó từ câu chuyện của nội tôi. Nội từng kể, lần đầu tiên chị nhảy sông, mất cả chục phút chú Hai mới vớt được chị. Khi người ta đưa chị lên bờ, chị đã ngưng thở. Rồi một đàn nhạn bay ngang, sà bóng xuống mặt chị, lúc đó chị tỉnh dậy nôn thốc nôn tháo trước bao người. Lần đó chị không chết nên người ta gọi chị là con trời, và cái tên Nhạn của chị cũng xuất hiện từ đó dù có một cái tên khác thật hay: Lục Bình.

***

(Hình minh họa)
Lần ấy chị không chết, nhưng đời chị lại sang một trang mới, chán hơn đối với chị, có lẽ thế! Ba mẹ tôi quyết định mang chị về nhà để trông thay cho ông bà nội tôi vì dù gì ông bà cũng đã già yếu.
Ngày chị về sống chung, tôi cảm thấy sợ hãi mỗi lần chạm ánh mắt của chị, nhất là khi nghe những đứa bạn thêu dệt chuyện nếu nhìn thẳng vào mắt chị tôi có thể biến thành con chim nhạn, bay lên trời và mãi mãi không trở về. Cũng vì chuyện chị nhảy sông không chết, không ít lần tôi đã đánh nhau với chúng bạn, đơn giản vì chúng bảo tôi cũng là con trời. Có lần thằng Tùng con nhà dì Nhỏ dìm tôi xuống nước để “thử mạng” tôi, may thay lúc đó dì Nhỏ đi chợ về bên sông cầm roi đánh đuổi thằng Tùng tôi mới sống. Đến giờ nghĩ lại tôi vẫn còn giận nó lắm, nhưng cũng nghĩ đó chỉ là một trò nghịch dại của tuổi thơ. Còn chị Nhạn, thú thực có nhiều lúc tôi tránh đối diện với ánh mắt của chị.
- Chị Nhạn, nếu em nhìn thẳng vào mắt chị em sẽ thành con chim nhạn thật sao? – Tôi lạnh lùng hỏi chị.
Chị hướng về bên kia sông, cố tránh: - Bân tin điều đó ư?
- Mấy đứa bạn em bảo thế! Vậy là thiệt?
- Bân nghĩ đúng sẽ đúng, Bân nghĩ không đúng sẽ không đúng. Mắt chị đẹp lắm nhưng hơi buồn đấy! Bân có muốn nhìn không?
Tôi làm thinh sau tiếng chào mời của chị, nhưng không ít lần tôi cảm thấy tò mò về cách chị tự hào về đôi mắt đẹp của mình. Rồi một ngày, khi chị soi gương chải tóc, qua tấm gương lớn của chiếc tủ dựng bên góc phòng, tôi đã lén nhìn vào mắt chị. Đôi mắt màu đen nháy, long lanh và đặc biệt là mí mắt dài xoăn tuyệt đẹp, khác với những đôi mắt sắc sảo của những cô gái trong làng. Cứ mỗi lần lén nhìn ánh mắt của chị, tôi lại sờ soạng trên cơ thể của mình, mắt mình, miệng mình…, rồi thở phào nhẹ nhõm rằng may mắn khi mọi thứ vẫn còn nguyên. Cũng vì những lần như thế tôi không còn tin những chuyện bịa đặt trong làng về chị nữa. Còn chuyện chị tự tử vì điên tình,  điều đến cả tôi cũng không thể phủ nhận, bởi chính tôi cũng đã chứng kiến nhiều lần chị nhảy sông cũng vì lụy tình…

***

Thú thật, tôi với chị không phải ruột rà cũng không có họ hàng gì sớt. Tôi không biết xưng hô với chị như thế nào cho đặng, dù tôi với chị đều gọi ông bà già ở nhà là ba mẹ… Tôi gọi là chị là chị đơn giản vì tôi kém tuổi chị. Nghe đâu chị được ông bà nội tôi nuôi nấng từ nhỏ. Nội kể, nội nhặt được chị ở bên bờ sông quê trong một sớm hôm nội đi vớt đóa lục bình. Nội bảo ngày xưa, thời bố mẹ tôi còn trai trẻ, cái chuyện “ăn chung nằm chạ” rất thường tình. Người nào “đàn ông” một chút thì dũng cảm nhận đứa con rơi của mình, người “yếu vía” thì làm lơ. Chị Nhạn là một trong những đứa trẻ kém may mắn, nhưng cũng còn may hơn những đứa trẻ khác bị bỏ rơi đến nỗi kiến đậu, thậm chí mất mạng vì bệnh tật. Nội tôi bảo thế, cũng có thể đó là chuyện từ thời rất xưa hoặc là chuyện rất nay nội gộp lại. Khi nhặt được chị, nội lấy luôn cái tên đóa lục bình đặt cho. Chị vốn là một cô bé ngoan ngoãn, lễ phép cho đến khi chị tròn 18 người ta mập mờ gọi chị là “giá hư” bởi chị lụy tình người con trai hơn chị chừng 5 tuổi làng bên. Chị yêu người con trai đó điên cuồng, mù quáng – người ta bảo thế. Gia đình tôi không can ngăn chị, nhưng nhà người chị yêu không chấp nhận chị.
Người đàn ông chị yêu là con nhà gia giáo, khác với hoàn cảnh của gia đình tôi, nhất là khi chị - người con gái được nội tôi nhặt bên bờ sông quê, tương lai của anh ấy rộng mở, còn chị… Ba mẹ tôi thường than với tôi như thế, nhưng mỗi lần nhìn thấy chị qua lại với anh họ chỉ biết cầu trời phù hộ chị được anh yêu thương thật lòng, lấy đó mà chở che cho chị. Ngặt nổi, để cấm cản chị và anh qua lại, gia đình làng bên cho anh nhập ngủ.
Doanh trại của anh công tác ở trên thành phố, chị phải qua hai con sông quê, vượt thêm vài chục cây số đường nữa mới tới. Số lần anh chị gặp nhau dần ít đi vì khoảng cách địa lý. Những dòng thư với những dòng chữ ướt át, nào là "nhớ em da diết đến nao lòng", "Hôm qua em có vui không?"… chị thường khoe với tôi cũng dần ít lại. Người ta bảo anh đã sống luôn ở trên thành phố, có vợ và một cậu con trai. Chị không tin điều đó. Chị hy vọng có thể gặp được anh, nhưng càng chờ chị càng tuyệt vọng. - Bân! Nếu mai này em lớn, đừng bao giờ để một người con gái phải khổ vì chờ đợi – Chị thường bảo tôi như thế, rồi chị cười. Tôi không hiểu vì sao chị cười nhưng trông chị cười thật đẹp.
Chị đẹp, nét đẹp của chị không gì sánh nổi. Có thể nó tươi như đóa lục bình chăng! Nhất là ngày chị thành thiếu nữ, khối chàng trai quê điêu đứng vì sắc đẹp của chị. Nhưng chị chẳng chấp nhận ai, chị chỉ yêu người đàn ông hơn chị 5 tuổi ấy. Rồi lụy tình, không ít lần chị đã tìm về bến sông, tính chuyện quyên sinh… Nhưng dường như số mạng của chị lớn, chị không chết. Có lẽ vì chị là con của trời chăng – trong lòng tôi có đôi chút hoài nghi như thế.
***
Đêm hôm đó, cái hôm tôi không thể nào quên trong đời. Khoảng chừng 9 giờ kém một chút, tôi thấy chị ra vào cửa phòng vẻ nôn nao. Mọi hôm giờ đó, chị sẽ trùm chăn bấm bấm chiếc điện thoại “cục gạch” của chị hoặc ôm cuốn tiểu thuyết ngôn tình mà chị tâm đắc “cày”, nhưng lần đó chị chỉ nhìn tôi, hệt như đang cố giục tôi đi ngủ sớm, tuy nhiên cái đống bài tập trên bàn tôi vẫn chưa kịp vơi. Khi kim ngắn đồng hồ điểm sang số 10, chị vội ghé sát vào tai tôi bảo:
- Bân! Em để cửa cho chị nhé, chị đi đây, đừng nói gì với ba mẹ chị ra ngoài! Ngoan chút về chị cho Bân sợi dây chuyền này, chịu không?
Chưa kịp phản ứng trước lời chào mời, chị đưa tay khều sợi dây chuyền có tượng là một chiếc bình thủy mạ vàng mà tôi thích đặt liền vào tay tôi. Lúc đó thú thực tôi chẳng ham thích gì dù đó là món đồ tôi từng cố vòi cho bằng được. Tôi không còn nhỏ để bị chị dụ cho quà nữa. Tôi đã hơn 15 tuổi, tuổi đủ để cảm nhận được trong lòng chị đang nghĩ gì và tôi hiểu giá trị của sợi dây chuyền chị vẫn mang trên cổ. Tôi tiến ra ban công nhìn chị nhẹ nhàng leo xuống. Lòng tôi chợt quặn thắt khi chiếc áo chị vướng trên đống thép gai ba tôi gài quanh bờ tường. Chị liều mình nhảy xuống nền đất một cái roẹt. Chiếc áo của chị rách ở bắp tay và ở khoảng cách chừng chục mét, tôi thấy tay chị tươm máu.
Tôi ném vội chiếc áo khoác xuống cho chị trong vô cảm rồi vội vàng đóng chặt cửa để tránh ba tôi ở dưới nhà nghi hoặc. Đêm hôm ấy, tôi không tài nào làm thêm một bài tập nào dù đó là những bài toán dễ như trở bàn tay. Tôi nằm xuống giường, lịm đi cho đến khi nghe tiếng kêu của chú Hai:
- Ông Sáu ơi! Mau ra sông vớt xác con Nhạn. Nó lại điên tình đấy!
Tôi vén màn, quờ vội chiếc áo rồi chạy ào ra nhà. Một đàn Nhạn bay lên giữa hè, đen nghịt cả một khoảng sông bên kia. Nội đứng bên bờ sông, khóc than:
Lục Bình con ơi! Lục Bình con ơi!

Tết năm sau, không có một chú chim nhạn nào bay trên trời báo xuân. Tôi đứng trên bờ ngó xuống sông quê, những đóa lục bình nở đẹp hệt như đang nhìn tôi mỉm cười.
C.L (2/03/2015)
Điều du khách thắc mắc đầu tiên khi đến với xứ Huế có lẽ không phải là những câu hỏi thực tế như đến Huế ăn gì, ở đâu hay đi đâu chơi.

Có lẽ họ muốn biết là vì sao Huế lại được gọi là đất Thần Kinh, vì sao nhắc đến Huế là nhắc đến xứ mộng mơ, xứ của những khoảng trầm mặc, của sự nhẹ nhàng pha chút gì đó ướt át nhưng rất đỗi thân thương...

Một góc cảnh đẹp ở xứ Thần Kinh.

Trời dần cuối thu, Huế đón khách bằng những cơn mưa bất chợt qua nhanh rồi để lại một khoảng trời xanh vắt. Hít một hơi thật sâu mới cảm nhận hết vẻ thanh mát của khí trời. Với tay gọi một chiếc xích lô, dành ít phút ngã giá rồi lan man đi, lan man nhìn, lan man thấm... 

- Thưa anh! Vì sao đất Huế gọi là đất mẹ Thần Kinh? 

- Vì Huế là đất Kinh Thành và nhiều điều Thần Bí ghép lại mà thành xứ Thần Kinh.

- Huế có gì gọi là thần bí?

- Từ từ anh sẽ biết.

- Vì sao gọi là Huế mộng mơ? Tôi có thấy nó mơ mộng lắm đâu?

- Từ từ anh sẽ biết. Tui chở anh qua mấy địa dạnh ni, đảm bảo anh sẽ thấy mơ mộng, ở luôn không muốn về...

Đi đâu?

Xích lô chở dọc Đại Nội, ngắm vẻ uy nghi pha chút trầm mặc được giới thiệu là dinh thự của vua chúa thời xưa. Trong cái quang cảnh rộng bao la với bao điều cần khám phá khi nhìn từ ngoài vào, lòng thấp thỏm sợ ngày mai sẽ không còn... nơi để thăm phá nên tự dặn lòng đành để dành cho hôm sau.

Chạy thêm chừng 5 cây số nữa để đến với chùa Thiên Mụ - ngôi chùa tọa lạc bên dòng Hương thơ mộng. Ghé chùa Thiên Mụ để nghe sự tích lời nguyền lứa đôi, để hiểu được nỗi sợ 'me mé' trong lòng những đôi yêu nhau lại không dám đến. Nhưng đâu đó trong cái lo âu ấy, trong khung cảnh thanh tịnh của ngôi chùa vẫn có những đôi bạn nắm tay nhau cầu xin trời phật ban phước lành và nỗi mừng vui khi lời nguyền được xóa bỏ...

Thắng cảnh không thể bỏ qua khi du lịch Huế - Chùa Thiên Mụ.

Tiếp tục chạy dọc sông Hương, đến làng Hải Cát, trên một ngọn núi thấp cây cối xanh rì soi bóng xuống mặt nước phẳng lặng thấp thoáng màu ngói nâu rêu phong của những đền thờ cổ. Đó là chính là Hòn Chén - một thắng cảnh nổi tiếng du khách không thể bỏ qua khi du lịch Huế. Leo lên những bậc tam cấp, lên trên đỉnh cao nhất để chiêm ngưỡng bức tranh sơn thủy ngập tràn sắc xanh với nhiều cấp độ.

Đến với Hòn Chén tháng 3, tháng 7 âm lịch mới cảm nhận được không khí lễ hội từ lễ hội dân gian thờ và rước Thánh Y Ana. Lễ hội được mệnh danh như một Festival trên dòng Hương...


Lên đỉnh cao mới thấy vẻ uy nghi của Hòn Chén. Ảnh: Wiki

Kết thúc hành trình trên một cung đường với lăng Tự Đức. Công trình được biết đến với danh hiệu kiến trúc đẹp nhất thời Nguyễn quả không ngoa chút nào. Tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế.

Trong khung cảnh thơ mộng và quyến rũ của sắc nước hương hoa, khách hành hương ngỡ mình như đang lạc vào tiên cảnh, khiến họ quên đi rằng đó là lăng tẩm của một người quá cố. Dặn lòng bớt mơ mộng chút để trở về thực tại, để dâng nén hương tâm linh cho vị vua quá cố tài hoa...

Vẻ thơ mộng của lăng Tự Đức khiến không ít du khách như bị "thôi miên'.

Ăn gì?

Đến Huế còn nhiều nơi để chơi, nhiều cảnh đẹp để ngắm, nhưng đi một buổi chiều rồi nên cũng cần chốn ăn uống, nghỉ ngơi. Trong cái thanh mát của chiều thu, người phu xe quệt mồ hôi vật vã vì nửa ngày lội đường xa xôi, người khách bụng cũng cồn cào đói:

- Thưa anh. Chúng ta dừng ở đâu ăn cơm là ngon nhất?

- Rứa anh nghe câu: "Ăn cơm Âm Phủ ngủ khách sạn Thiên Đường chưa?"

Dứt câu, người lái xe nhiệt tình lăn bánh. Chiều Huế chốc đó đã tim tím, buồn buồn cái điệu buồn khó tả. Mơ hồ nghĩ, chợt lòng lắng đọng những cảm xúc khi ngắm những cô nữ sinh tan trường với tà áo trắng tinh khôi, thi thoảng nghe đôi câu "răng tê mô rứa" thiệt nhẹ nhàng, dễ mến. Chốc phút mơ hồ, xe đã đến nơi. "Huế coi bộ mà nhỏ hỉ" - Giỡn đôi câu giọng Huế cho người lái xe vui cười, bớt mệt.

Cơm âm phủ hóa ra là tên của một loại cơm ở quán Âm Phủ. Dĩa cơm coi vậy mà cầu kỳ đến lạ! Từ màu sắc đến cách trang trí thức ăn trên dĩa phảng phất nét gì đó rất tinh tế, sang trọng. Bên cạnh dĩa cơm đầy hương sắc là chén nước mắm đặc trưng của Huế. Đúng là dân Huế ăn cay, để khách phương Nam vừa ăn vừa hít hà... Có lẽ chén nước mắm cay ấy chỉ thích hợp cho con người nơi đây, bởi hằng ngày vẫn thấy nó hiện diện trên mâm cơm của những người bạn quê ở Huế...

Món cơm âm phủ khá cầu kỳ với nhiều nguyên liệu.
Ở đâu?

Kết thúc bữa cơm, người khách bông đùa: "Vậy giờ anh dẫn tôi đi ngủ khách sạn Thiên Đường sao?". Người lái xe im lặng, lái xe chừng 3 phút đến khu vực trung tâm thành phố, nơi những ánh điện đã lên đèn. Thành phố Huế bỗng dưng khác lạ, nhộn nhịp và sôi động đúng chất một thành phố. Trong phút ngỡ ngàng, người lái xe chỉ chỏ: "Đấy! Những tòa nhà cao chót vót quanh đây, những khách sạn giá bình dân có, sang trọng có, tùy anh chọn đấy. Còn nếu muốn ở khách sạn Thiên Đường, tôi sẵn sàng chở anh đi".

Chào tạm biệt người lái xích lô nhiệt tình vui tính, làm thủ tục chọn phòng nhanh gọn, nhấc máy gọi mấy đứa bạn ở Huế vừa đi làm về lai rai. Sau những giờ vui vẻ, dạo bờ cỏ dọc cầu Tràng Tiền, dừng chân ngắm vẻ thơ mộng của dòng Hương. Đang mải mê ngắm cảnh đẹp, bạn bè đứa nói một câu mà lòng đầy hứng khởi: 

- Mi đi nơi mô rồi? Mai tau chở mi đi phá Tam Giang, đi biển Thuận An, biển Lăng Cô... Mi muốn đi mô cứ nói. Huế thiếu chi nơi để đi.

Phá Tam Giang mang tính “biểu tượng” về môi trường sinh thái của Thừa Thiên - Huế xưa và nay.

- Mi ăn chè hẻm ở Huế chưa? Bún bò Huế, cơm hến, bún hến, bánh canh cá lóc... mi muốn ăn thứ gì trước?

Hóa ra Huế còn lắm nơi để đi, lắm thứ để ăn và lắm điều để nói, để nhớ, để chờ... Hơn 2 ngày ở lại Huế, sao có thể cảm nhận được tất cả những nét đẹp của Cố đô. Đành hẹn Huế vào một dịp khác vậy!

C.L (Theo Ivivu)
Nắng Sài Gòn trút xuống những mái tôn, không khí trong xưởng in trở nên ngột ngạt, Thường bước từng bước nhỏ quanh bàn in với chiếc máy sấy trên tay uể oải. Những tháng cận dịp tết là hàng hóa càng chất lên đầy đống, hết làm ngày lại làm đêm khiến cho khuôn mặt của cô bé trở nên già hơn nhiều so với tuổi thật.


Thường - 17 tuổi, cái tuổi đáng lẽ được cắp sách đến trường như bao bạn bè cùng lứa. Thế nhưng cô đã tự hủy hoại tuổi đời đẹp nhất của mình trong những cuộc vui. Thường đã trốn gia đình vào Sài Gòn gần 2 năm, cặm cụi làm việc trong xưởng in hơn 1 năm trời với những nỗi đau khổ khôn cùng. Cô mân mê tấm vải trắng nhớ tới những tháng ngày cô cùng chúng bạn vui chơi ở bãi cát trắng ven biển của làng chài, những tiếng hò hét inh ỏi trong những quán xá mỗi dịp giao thừa sang... Thường không dám nghĩ đến tết. Dù nó còn xa lắm! Tết xa hương đối với cô là một điều thật đáng sợ. Sự cô đơn khi đó sẽ nhân lên rất nhiều so với bây giờ - Thường nghĩ thế!

- Nhỏ. Nhỏ làm gì thế kia! Cháy hết mất tiêu rồi - Tiếng thét của Hoài cất lên khe khẽ khi nhìn thấy tấm vải mà Thường đang sấy bị cháy xém. Hoài vẫn luôn gọi Thường bằng Nhỏ, cách gọi mà Hoài bảo là thương nên mới gọi vậy. Cô gọi Thường là Nhỏ cả những khi Thường làm gì sai.

- Ừ ừ. Nhỏ biết rồi. Chỉ bồi thường thêm ít nghìn chứ chi - Thường trả lời tỉnh bơ. Cũng phải thôi, bởi đó không phải lần đầu tiên cô phạm sai lầm. Với cô những sai lầm nhỏ bé thế kia chẳng đáng gì bằng quá khứ tội lỗi mà cô gây nên...

Đêm Sài Gòn nối đuôi nhau bằng những ngọn đèn vàng trên những con đường lớn nhỏ, Thường ngồi trên mép sông, cắm cúi bứt từng ngọn cỏ, mắt nhìn phía bên kia bờ vô vọng.

- Có khách đến kìa Thường - Giọng cô chủ quán nhỏ líu ríu gọi. Hôm nay xưởng in không làm việc, Thường lại đến quán cà phê ven bờ sông bên cạnh xưởng làm thêm. Những hôm cuối tuần đông khách, Thường còn được dăm ba chục tiền boa. Còn mấy hôm đầu tuần như hôm nay, cũng được tà tà dăm ba đồng lẻ. Mấy đồng tiền ít ỏi ấy của cô cũng theo những cái cốc vỡ mà đi. Điều ấy khiến cho cô bạn Hoài ngán ngẩm, không ít lần cô bảo Thường đi làm cũng bằng không. Những khi ấy Thường chỉ cười khì khiến Hoài chỉ biết chẹp miệng cười theo.

Tan ca, Sài Gòn cũng bớt ồn đi bởi tiếng động cơ xe máy càng lúc càng thưa, Thường bước về xưởng in - nơi cô vừa làm vừa ở. Có tiếng còi xe rít lên một hồi. Tiếng còi xe mà mỗi lúc Thường nghe đều cảm thấy sởn gai ốc.

- Làm về rồi hả em? - Giọng khàn khàn của gã đàn ông ngoài 30 khiến Thường loay hoay, cô ậm ừ vâng dạ!

- Lên xe đi em! Anh chở đi ăn.

Thường ngoan ngoãn ngồi lên xe của người đàn ông kia. Ánh sáng của ngọn đèn đường soi rõ hình ảnh của gã. Gã đàn ông lịch lãm trong bộ vest đen, mắt đeo kính cận có vẻ rất tri thức. Xe đi ngang qua xưởng in, Hoài thoáng nhìn ra khung cửa sổ trên lầu hai của xưởng, chẹp miệng: "Khốn nạn. Đích thị là lão chủ xưởng dê xồm. Tội nghiệp Nhỏ!".

***

Sáng sớm, Hoài cựa mình tỉnh giấc, Thường trở về phòng khi nào không hay, cô trông có vẻ rất mệt mỏi. Hoài kéo chăn cho Thường ngủ thêm chút, đoạn đi chuẩn bị bữa sáng. Bữa sáng mọi khi với cô đơn giản là bát cơm chiên vàng giòn tự làm hoặc một ổ bánh mì mua từ cô chủ dễ mến phía bên kia đường. Hôm nay thì khác hẳn, Hoài mua một bát bún giò ngon lành còn nóng hổi. Cô cần mẫn bưng trên tay lên phòng léo réo gọi:

Thường tự hỏi, cảm giác khi cạnh Hoài liệu có phải là tình yêu? (Ảnh minh họa)
- Nhỏ ơi! Dậy thôi. Dậy ăn khi còn nóng.

Thường choàng tỉnh, những cốc bia hôm qua khiến đầu cô nhức mỏi. Cô bước xuống những bậc thang uể oải, đoạn thấy bát bún nghi ngút mắt cô sáng hẳn ra. Cô đưa ánh mắt sang phía Hoài, nói lời cám ơn vội rồi cầm đũa ăn một cách ngon lành. Chẳng có gì lạ bởi ăn là sở thích của cô nàng, đặc biệt là món bún giò. Chỉ có cô bạn tâm giao là Hoài mới hiểu được cô và biết cách làm cô vui.

- Nhỏ tính sống như thế này hoài sao Nhỏ? - Hoài cất lời khi Thường vừa dùng bữa xong.

- Ừ. Không sống vậy chứ biết sống sao?

- Nhỏ vẫn muốn tiếp tục quan hệ mập mờ với ông chủ dê xồm đó sao?

- Là sao?

- Nhỏ đừng tưởng anh không biết à nha. Không chỉ mình anh đâu, mọi người trong xưởng đều biết. Họa sắp ập tới đầu Nhỏ rồi đấy Nhỏ à.

Thường chợt im lặng. Cô thoáng nghĩ về điều đó. Họa ư! Cái họa lớn nhất cuộc đời cô đã gây ra từ hai năm trước. Khi cô bắt đầu yêu sớm và trót có thai với gã tình hờ. Cô đã tự giết chết sinh linh của mình và trốn vào Sài Gòn biệt tích. Còn chuyện tình cảm với ông chủ xưởng cô thấy thật bình thường. Ông chủ bảo đã ly dị vợ và vợ của ông đang ở quê. Ông đã hứa với Thường rằng sang năm, khi Thường tròn 18 tuổi sẽ cưới Thường làm vợ. Lúc đó Thường sẽ có cuộc sống yên ổn. Thường nghĩ đơn giản là thế. Dù cô rất sợ mỗi tối khi đi cùng ông chủ. Những lần đụng chạm da thịt khiến Thường ám ảnh. Cô không dám nghĩ đến điều đó nữa.

Có tiếng ken két của cánh cửa sắt ở xưởng kéo vội.

- Xuống làm thôi Nhỏ. Ông chủ của Nhỏ đến rồi đấy! - Hoài cất lời pha chút bông đùa.

Thường sửa soạn đồ rồi xuống chỗ làm. Chiếc máy sấy trên tay bắt đầu soàn soạt. Một ngày trôi qua với cô luôn như thế!

***

Khi ánh mai hừng đông, Thường choàng người tỉnh giấc. Không gian trên chiếc giường nhỏ bỗng nhiên rộng hơn, trống trải hơn. Cô giật mình khi bên cạnh cô không có hình ảnh quen thuộc của Hoài. Cô nghĩ chắc Hoài dậy sớm như mọi khi. Nhưng kỳ lạ thay những thứ khác của Hoài trong phòng cũng không còn nữa, chỉ còn lại mỗi bức thư tay. Thường cầm thư lên, vừa đọc vừa rơi nước mắt:

"Nhỏ! Anh phải đi. Bố mẹ bảo anh về quê và họ đã sắp xếp cho anh một đám hỏi. Anh 26 tuổi rồi, phải đến lúc thôi. Dù anh chẳng muốn và chẳng hề có cảm giác gì với người đàn ông anh sắp cưới. Xa anh, Nhỏ phải tự cố gắng sống cho tốt, ăn uống đầy đủ và sống lành mạnh hơn. Anh không an tâm khi để Nhỏ sống một mình, nhưng anh không thể làm điều gì khác.

Nhỏ! Bấy lâu sống chung với Nhỏ, Nhỏ cũng hiểu anh khác với những người con gái khác. Anh không thích đàn ông, thậm chí ghét họ. Anh chỉ yêu và có tình yêu với những người con gái. Và anh yêu Nhỏ lắm Nhỏ à! Yêu Nhỏ như cái định nghĩa đúng của hai chữ "tình yêu". Nhưng anh biết Nhỏ là con gái, Nhỏ có người yêu rồi và Nhỏ còn tương lai phía trước. Anh sẽ cố gắng sống tốt và cũng hy vọng Nhỏ cũng sẽ làm được điều đó. Có khó khăn gì, tìm anh nhé Nhỏ! Khi nào có dịp, anh sẽ lên thăm!

Tạm biệt Nhỏ! Thương nhỏ nhiều!"

Thường khóc. Cô bất ngờ trước tình cảm bấy lâu này Hoài dành cho mình. Cô nghĩ chuyện xưng 'anh - em' với một người con gái khác rất đỗi bình thường. Cô bắt đầu nhớ đến những ngày tháng sống cạnh Hoài, những cử chỉ và cách Hoài quan tâm cô. Chợt sống lưng cô cảm thấy lạnh khi nhớ đến những lúc mình ngã vào vai Hoài khóc sướt mướt, khi Hoài ôm cô vào lòng an ủi những khi cô tủi thân nhớ về quá khứ buồn... những khi ấy, cô cảm thấy ấm lòng đến kỳ lạ! Cảm xúc mà đến bây giờ, khi đọc lá thư của Hoài, cô mới nhận ra.

Trong lòng Thường giờ đây dấy lên những suy nghĩ: Liệu mình có yêu Hoài không? Mình có phải là con gái? Mình yêu con gái? Những câu hỏi cứ ùa đến, dập tắt cả quá khứ buồn khổ của Thường... Thường phải sống sao đây!?

C.L 01/09/2014